Có những chữ nghe lên một cái là thấy cả một khúc đời cũ hiện ra. Không phải chỉ là tiếng nói, mà là mùi nước sông, mùi khói bếp, tiếng mái chèo khua nhẹ trên con rạch nhỏ, tiếng rao bên chợ, tiếng cười của mấy người quê thiệt thà, có gì ăn đó, có gì nói đó.
Nhớ lại những năm tháng đi qua miền Tây thời tuổi trẻ, trước mắt như còn nguyên hình ảnh sông nước mênh mông. Xóm nhỏ ẩn hiện dọc bờ kinh. Mái lá thấp thấp nép dưới hàng cây. Trước hiên nhà có bàn Thiên, một bình cắm nhang, một chung nước nhỏ. Xa xa là mấy bờ đê chia những thửa ruộng lúa, mùa mưa thì xanh rì, mùa nắng thì vàng óng. Kinh rạch chằng chịt, luồn sâu vô những vườn cây ăn trái. Trên sông có thuyền, có đò ngang, có tắc ráng, có ghe chở hàng từ vùng sâu ra phố chợ. Đôi khi thấy một chiếc ghe dừng chân thả vịt, rồi đâu đó vọng lại một câu hò, một câu vọng cổ nghe văng vẳng, buồn mà thương.
Miền Tây, hay rộng hơn là miền Nam lục tỉnh, có cái chất hào sảng rất riêng. Người ta chân tình, mộc mạc, nói chuyện không vòng vo nhiều. Câu chữ cũng vậy. Nó có khi quê mùa, có khi dí dỏm, có khi thô ráp, nhưng trong cái thô ráp đó lại có một thứ duyên rất thiệt. Sau năm 1954, rồi qua những đợt di cư và biến động xã hội khác nhau, văn hóa từ nhiều miền, nhiều lớp người, nhiều hoàn cảnh đã gặp nhau trên đất Nam. Vì vậy, tiếng nói hằng ngày cũng biến đổi, pha trộn, thích nghi theo thời cuộc.
Một số tiếng xưa, tiếng lóng trước năm 1975, nhất là những chữ đã từng thông dụng trong thời Pháp thuộc, có nguồn gốc từ tiếng Pháp, tiếng Miên, tiếng Hán, rồi hòa với tiếng Việt của cả Nam, Trung, Bắc. Những chữ đó không chỉ dùng để gọi tên sự vật. Nó còn chở theo cái hay, cái đẹp, cái hài hước, cái mỉa mai, cái châm biếm, cái dặn dò, răn đe của một thời đã xa.
Bài này xin được ghi lại theo lối nhớ gì ghi đó. Không xem đây là một bài khảo cứu ngôn ngữ nghiêm ngặt, mà coi như một chút lưu niệm. Thỉnh thoảng mình “giở gương xưa tìm bóng”, rồi mỉm cười một cái với những tiếng nói từng nằm trong đời sống ông bà, cha mẹ, cô bác mình ngày trước. Có những chữ bây giờ ít ai xài nữa, nhưng nghe lại vẫn thấy gần gũi. Như có người chìa bàn tay ra coi chỉ tay quá khứ, rồi nói: khúc nào buồn thì bỏ bớt cho vui.
Một số tiếng xưa, tiếng lóng miền Nam thường nghe hồi trước
“Bàn toán” là dụng cụ người Hoa thường dùng để tính tiền hồi xưa. Cái bàn nhỏ có những hạt gẩy qua gẩy lại, nhìn đơn sơ nhưng tính toán rất lẹ.
“Bài kía” là giấy chứng nhận quyền sở hữu, thường dùng cho gia cầm, heo, bò, trâu… trong thời Pháp thuộc.
“Ăn kết” có nghĩa là điều tra. Thí dụ: “Mả tà ăn kết vụ ăn cắp gà ở Xóm Gà”, tức là cảnh sát đang điều tra vụ mất gà.
“Phú lít” là cảnh sát, đọc trại từ chữ police trong tiếng Pháp hoặc tiếng Anh.
“Mả tà” cũng là cảnh sát. Chữ này thường được cho là đọc trại từ matraque, nghĩa là dùi cui, loại vũ khí cảnh sát hay đeo bên hông.
“Sơn đầm”, “sen đầm” là cảnh sát đặc biệt, hiến binh thời Pháp thuộc, đọc trại từ chữ gendarme.
“Ông Cò” là cách người dân trong Nam gọi ông cảnh sát trưởng thời Pháp thuộc. Trong văn chương cũng có hình ảnh ông cò, như bài thơ nổi tiếng của Tú Xương:
Hà Nam danh giá nhất ông cò
Trông thấy ai ai chẳng dám ho.
Hai mái trống toang đành chịu giột,
Tám giờ chuông đánh phải nằm co.
Người quên mất thẻ âu trời cãi,
Chó chạy ra đường có chủ lo.
Ngớ ngẩn đi xia may vớ được,
Chuyến này ắt hẳn kiếm ăn to.
Không biết ông cò trong bài thơ ấy có giống ông Cò quận Chín trong tuồng cải lương Tuyệt Tình Ca của Hoa Phượng và Ngọc Điệp hay không. Cũng xin nhắc thêm, thời tuồng này ra đời khoảng năm 1965 thì quận 9 chưa có thật; vài năm sau vùng Thủ Thiêm mới có quận Chín.
“Tem cò” là tem thư. Có người giải thích vui rằng chắc tại con cò bay đi đưa thư khắp nơi, nên gọi là tem cò.
“Cò mồi” là người đứng ra dụ dỗ, lôi kéo người khác vô chuyện lừa đảo, bịp bợm.
“Thầy cò” là người sửa bản in ở tòa báo, hoặc người chuyên làm đơn thuê trong các việc hành chánh, kiện cáo.
“Tiền cò” là tiền hoa hồng, tiền môi giới. Chữ này có thể có liên hệ với chữ commission trong tiếng Pháp.
“Ốm như cò ma” là gầy lắm, ốm nhom, nhìn thiếu sức sống.
“Nhảy cò cò” là trò chơi con nít. Trẻ nhỏ vẽ hình dưới đất rồi nhảy bằng một chân qua từng ô.
“Sức mấy” nghĩa là không thể nào, còn lâu, không có cửa. Người Nam hay nói: “Sức mấy mà dám làm”, “sức mấy mà buồn”.
“Xưa rồi Diễm” là câu nói có nghĩa là chuyện đó cũ rồi, biết rồi, khỏi nhắc hoài. Cụm này thường được liên hệ với bài Diễm xưa của Trịnh Công Sơn.
“Thôi đi Tám”, “bỏ đi Tám” nghĩa là đừng nói dóc nữa, láo vừa thôi.
“Bà Tám” là người nhiều chuyện, thích nghe và kể chuyện thiên hạ.
“Đi bum” là đi party, đi chơi, đi nhảy đầm.
“Đi xế hộp” là đi xe hơi.
“Chim gái” là tán gái, cua gái.
“Nghể gái”, “ghế” là ngắm gái trên đường phố. “Ghế” cũng có thể dùng để chỉ cô gái mình đang để ý.
“Bắt bò lạc” cũng là đi cua gái, thường là ban đêm, nhưng sắc thái nghe có phần xấu hơn, không trong sáng bằng cách nói bình thường.
“Hết sẩy” là ngon lành, quá được, không chê vô đâu được.
“Chiến” là bảnh bao, ngon lành, coi được. Có khi nói người đó “chiến” nghĩa là trông sáng sủa, có nét, có sức hút.
“Bắt địa” là tìm cách dụ dỗ, gài thế để làm tiền người khác.
“Chôm chỉa” là ăn cắp, không phân biệt món lớn hay món nhỏ.
“Xù” là không giữ hẹn, bỏ ngang, không theo nữa. Thí dụ: “Bị ghế xù rồi”, nghĩa là bị cô gái mình để ý bỏ hẹn hoặc bỏ mình. Có người đoán chữ này có thể liên hệ với tiếng Anh shoo, nhưng đây chỉ là cách giải thích dân gian.
“Chầu bà” là sợ vợ.
“Khứa” là thằng đó, người đó. Chữ này tới nay vẫn còn nghe trong khẩu ngữ miền Nam.
“Nhật trình” là báo hằng ngày.
“Tin xe cán chó” là chuyện không quan trọng, tin nhỏ, không đáng kể.
“Tiểu thuyết ba xu” là loại truyện rẻ tiền, truyện dở, viết để đọc cho vui chớ không có giá trị văn chương cao.
“Tịch”, “hui nhị tì”, “ngủm cù đèo”, “đi mua muối” đều là những cách nói tránh hoặc nói đùa về cái chết.
“OK Salem” là đồng ý, được rồi. Salem là một loại thuốc lá Mỹ khá thông dụng hồi đó. Người ta còn đùa Salem là “Sao em làm anh mệt”.
“Anh hùng xa lộ” có lẽ xuất hiện từ thời có xa lộ Sài Gòn – Biên Hòa. Nghĩa đen là người chạy xe bạt mạng ngoài xa lộ; nghĩa bóng là người ngang tàng, coi thường luật lệ.
“Xộ khám”, “vô Chí Hòa nha con” là bị bắt giam, ở tù. Chí Hòa là nhà giam nổi tiếng ở Sài Gòn.
“Cúp cua” là nghỉ học lén, trốn học, không xin phép.
“Đi ăn chè” được dùng để chỉ chuyện ngoại tình lén lút. Cách nói này được kể là xuất phát từ chuyện một nhạc sĩ P.D dẫn một tài tử K.Ng, cũng là em dâu, xuống Nhà Bè ăn chè rồi bị bắt gặp trong một khung cảnh không tiện nói rõ. Sau đó một thời gian, bài Nửa hồn thương đau ra đời. Đây là kiểu giai thoại truyền miệng, vừa kể vừa nghe cho vui, không nên coi như tư liệu xác quyết.
“Cưa đôi” là chia hai phần bằng nhau.
“Đàng thổ” là người Miên, tức người Khmer.
“Bộ đồ vía”, “diện kẻng” là ăn mặc sang trọng, đẹp hơn ngày thường, thường dùng khi đi chơi, đi tiệc, đi đám.
“Đầu gà đít vịt” là cách gọi người Tàu lai.
“Bán nới” là bán rẻ hơn một chút, bớt giá một chút.
“Chó lửa” là súng lục, loại súng nhỏ cầm tay, có ổ đạn quay như revolver.
“Thịt bệu” là thịt hư, thịt không còn tươi.
“Bú thép” là bú nhờ.
“Dốt dốt” là chưa khô hẳn, còn hơi ẩm.
“Quần xà lỏn” là quần đùi.
“Qua” là tiếng xưng hô, nghĩa là tôi hoặc tao, tùy vai vế và hoàn cảnh.
“Bậu” là bạn, là người thương, là người mình nói chuyện thân tình.
“Lấy le” là làm dáng, khoe khoang, muốn cho người khác chú ý.
“Thua me, gỡ bài cào” nghĩa là đừng lo, thua keo này thì gầy keo khác, còn đường khác để gỡ.
“Xếp re” là im lặng chịu thua, hết dám nói gì nữa.
“Ám đọc” là bài học thuộc lòng.
“Hớt cua” là hớt tóc ngắn cao, thường được giải thích là âm trại từ chữ court trong tiếng Pháp.
“Xăng xái” là hăng hái, muốn bắt tay vô việc liền, không chần chừ.
“Bác vật” là khoa học gia, người có học thức chuyên môn cao.
“Nhờ piston” là nhờ quyền thế, nhờ người có vai vế để chạy chọt công việc.
“Đánh phép” là gian lận trong thi cử.
“Đì” là bị trù dập, bị ép, bị ngăn không cho tiến lên.
“Chạy mánh” là tìm cách giải quyết bằng mưu mẹo, nhiều khi là bằng con đường không chính đáng hoặc không minh bạch.
“Cà ròn” là bao đan bằng đệm, giống như bao bố.
“Hỏng chừng hỏng đổi” là bất thường, thay đổi khó đoán.
“Măng đa” là giấy ngân hàng báo hoặc ủy quyền đi lãnh tiền, đọc trại từ chữ mandat trong tiếng Pháp.
“Phi dê” là uốn tóc, đọc trại từ chữ frisé trong tiếng Pháp.
“Ông Chánh” là ông tỉnh trưởng. Có câu ca dao:
Mười giờ ông Chánh về Tây,
Cô Ba ở lại chịu đời đắng cay.
“Quất ngựa truy phong” là bỏ chạy, thường là chạy vì tình, vì nợ, hoặc vì chuyện rắc rối nào đó.
Những câu chuyện dân gian, trò chơi và đồ vật xưa
“Cái quần chín núm” là một câu chuyện ca dao rất xưa, kể về một người làm ruộng có cái quần rách. Chỗ nào rách thì buộc lại thành một núm. Mẹ chồng thấy con dâu phơi cái quần có chín núm, thương quá bèn vá lại rồi đem phơi trên sào. Người con dâu về tìm không thấy cái quần cũ của mình, bèn hát:
Từ bi ba lá từ bi,
Cái quần chín núm nó đi đằng nào?
Mẹ chồng nghe vậy liền đáp:
Cái quần mẹ giắt trên sào,
Con hãy bước tới lấy vào mà thay.
Người con dâu thấy cái quần đã được vá lành lặn, cảm động mà hát:
Người hiền lại gặp người hiền,
Cái quần chín núm nó liền như xưa.
Câu chuyện nghe giản dị mà dễ thương. Nó có cái tình nhà quê: nghèo thì nghèo, nhưng thương nhau bằng từng đường kim mũi chỉ.
“U ấp” là trò chơi con nít chia làm hai phe, số người hai bên bằng nhau, đứng cách nhau bởi một đường thẳng vẽ dưới đất. Từng người thay phiên chạy sang phần đất của phe bên kia, vừa chạy vừa phát âm “u…” liên tục. Người chơi phải cố gắng chạm hoặc đánh trúng một người bên kia rồi chạy về phần đất của mình mà không bị bắt lại, không bị đứt hơi. Nếu chạm được đối thủ rồi chạy về an toàn thì người bị chạm phải ra khỏi cuộc chơi. Ngược lại, nếu bị phe kia bắt, đè xuống, làm cho tiếng “u” bị ngắt quãng thì người chạy sang bị thua. Phe nào hết người trước thì thua cuộc.
“Thảy lỗ lạc”, “đánh đáo” là trò chơi ném bạc cắc, đồng xu vô một cái lỗ nhỏ khoét trên đất. Đồng nào lọt vô lỗ thì người thảy được giữ. Đồng nào nằm ngoài lỗ thì người chơi phải chọi trúng một đồng xu được người cùng chơi chỉ định. Số tiền nhiều hay ít tùy mấy đứa nhỏ góp vô ban đầu.
“Đánh gồng”, “đánh chỗng” là trò chơi thường thấy ở vùng quê đất rộng. Dụng cụ gồm một cây que ngắn cỡ một gang tay và một cây que dài hơn, khoảng ba gang tay. Dưới đất đào một lỗ nhỏ, đặt cây que ngắn sao cho một đầu nhổng lên khỏi mặt đất. Người chơi dùng cây que dài đập vào đầu nhổng của que ngắn cho nó bật lên, rồi đánh mạnh cho que bay càng xa càng tốt. Nếu người khác chụp được que thì người đánh thua. Nếu que rớt xuống đất, người đánh dùng cây que dài đo khoảng cách từ chỗ que rớt tới miệng lỗ. Ai đánh xa nhất thì thắng.
“Cái rộng” là cái lu thấp dùng để đựng cá hoặc lươn.
“Thằng cốt đột” là cách nói mắng yêu hoặc mắng bực, nghĩa gần như “thằng khỉ”.
“Chơi lật hình” là trò lật sách. Ai lật trúng trang có nhiều hình hơn thì thắng.
“Công nho” là tiền quỹ của làng xã.
“Nhảy bao” là trò cho hai chân vô bao bố rồi nhảy tới đích. Ai tới trước thì thắng.
“Bông dụ” là hột xí ngầu, dùng trong trò cờ bạc, có sáu mặt từ một nút tròn tới sáu nút tròn.
“Đề pô” là đại lý hoặc kho chứa hàng, đọc trại từ chữ dépôt trong tiếng Pháp.
“Cây thông”, “song hồng” là cây bằng sắt hoặc gỗ, xỏ qua hai khoen để gài cửa.
“Xây kim tỉnh” là xây mộ sẵn cho người còn sống, coi như chuẩn bị trước phần hậu sự.
“Gà mái biết gáy” là cách nói người đàn bà nắm quyền, làm chủ trong nhà hoặc trong một việc nào đó.
“Ly nguyên tử” là loại ly nội hóa, làm bằng thủy tinh pha nhựa plastic, khó bể.
“Viết nguyên tử” là bút viết bằng mực dầu, xài xong thì mua cây khác. Loại bút thông dụng một thời có nhãn hiệu Bic nên nhiều người nhớ tới.
“Cái trả” là cái nồi lớn dùng để nấu bánh tét.
“Cà ràng ông Táo” là lò nấu ăn bằng đất sét. Phần đầu có ba chấu để đặt nồi, phần đuôi dài để than và củi không bị đổ ra ngoài.
“Bù ngót” là loại cây nhỏ, lá xanh, thường dùng nấu canh với rau dền, tôm khô, hoặc nấu với măng và cá. Nước canh có vị ngọt thanh, ăn rất ngon.
“Có đường tương chao” nghĩa là có hy vọng, có tương lai khá hơn, còn đường để xoay xở.
“Mò tôm” là cách nói rợn người, chỉ việc thủ tiêu bằng cách bỏ người vô bao rồi liệng xuống nước.
“Cù bơ cù bất” là đơn côi, bơ vơ, không nơi nương tựa.
“Xuống song lang” là trong vọng cổ, khi người ca xuống đúng chỗ mùi, đúng nhịp song lang, khán giả nghe đã thì vỗ tay.
“Vầy duyên can lệ” là nên nghĩa vợ chồng.
“Lộng giả thành chân” là lấy cái giả làm cái thiệt, giả lâu ngày thành như thật.
“Lát xưa” là người chỉ chỗ ngồi cho khán giả trong rạp hát, đọc trại từ tiếng Pháp placeur, gần với tiếng Anh usher.
“Tuổi quá bán” là tuổi trên bốn mươi.
“Đồng tịch đồng sàng” là chung chiếu, chung giường; thường dùng để nói chuyện vợ chồng.
“Bán tháo” là bán gấp, bán bằng mọi giá, có khi chịu lỗ cũng bán.
“Mở hàng” là mua hoặc bán lần đầu trong buổi sáng, coi như lấy hên cho ngày buôn bán.
“Dân thương hồ” là người buôn bán, sinh sống trên ghe xuồng, rày đây mai đó theo con nước, bến chợ.
“Ăn dộng”, “dộng” là ăn, nhưng sắc thái thô, không lịch sự.
“Xấp xỉ” là vào khoảng, gần bằng, không chênh lệch nhiều.
“Tuổi cập kê” là tuổi bắt đầu biết chuyện trai gái, yêu đương.
“Tam sên” có thể hiểu là ba người hợp nhau. Nghĩa đen trong lễ cúng là một dĩa gồm một miếng thịt luộc, một con tôm và một trứng luộc.
“Tổng khậu” là đầu bếp chuyên nghiệp.
“Đúng trân” là đúng một trăm phần trăm, đúng y chang, không sai chút nào.
“Liếc dao” là dùng cái khu chén hoặc tô mài sơ lưỡi dao vài lần trước khi cắt gì đó.
“Nhà dây thép” là bưu điện. Hồi xưa, chuyện thư từ, điện tín, dây thép gắn liền với nơi này nên gọi như vậy.
“Bù trớt” là không đâu vô đâu, không ăn nhập, không liên hệ gì.
“Vòng vo Tam Quốc” là nói dài dòng, lăng nhăng, đi xa vấn đề chính.
“Liên tu bất tận” là không kịp nghỉ, nói hoặc làm liên tục không ngừng.
“Đắt mèo” là được nhiều đàn bà con gái thương thích, để ý.
“O mèo” là cua gái.
“Trà nước” là hối lộ, đưa tiền để bôi trơn công việc.
“Hầm bà lằng” là trộn lẫn đủ thứ, không phân biệt, không ra lớp lang.
“Xáp lá cà” là sát gần, đánh gần, cận chiến.
“Thỏ đế” là nhút nhát, sợ hãi, không dám làm.
“Phần phật” là động tác nhanh, mạnh, phát ra như gió.
“Sít sát” là rất gần nhau, gần như chạm nhau.
“Trần ai khoai củ” là cực nhọc lắm, vất vả lắm mới làm được hoặc đạt được chuyện gì.
“Con khỉ” là một loại tiền bạc cắc thời Tây mới tới.
“Chầm bầm” là vẻ mặt không bằng lòng, bực bội, giận dỗi.
“Sở trường tiền” là Sở Công chánh.
“Cô hãng”, “bà hãng” là vợ của chủ nhà buôn, vợ nhà doanh nghiệp.
“Thớ lợ”, “xớ lợ” là không quen thuộc nhiều, không thân, không rành.
“Áng”, “ná” là tiếng miền Nam xưa dùng để gọi cha, mẹ.
“Nong nả” là nóng ruột, không yên, muốn làm việc gì đó liền.
“Trân trân” là yên một chỗ, không lay chuyển, không nhúc nhích.
“Lân lí” là chòm xóm. Theo cách hiểu xưa, năm nhà là một lân, năm lân là một lí.
“Dễ duôi” là coi không ra gì, xem thường, khinh khi.
“Con hát” là ca kịch sĩ, người làm nghề hát, diễn trên sân khấu.
“Nước” là mưu kế, cách tính. Nói “tính hết nước rồi” nghĩa là đã nghĩ hết cách.
“Dần lân” là được nước, được mòi rồi cứ quen thói làm tới, lấn thêm chuyện khác.
“Hạ bạc” có hai nghĩa. Nghề hạ bạc là nghề chài lưới, đánh cá. Còn “kẻ hạ bạc” là cách tự xưng khiêm nhường, nghĩa là kẻ thấp hèn.
“Tam bành, lục tặc” là nổi nóng, để những thứ xấu trong lòng xúi mình làm chuyện không nên. Theo cách giải thích dân gian, tam bành là ba tà thần Bành Sư, Bành Chất, Bành Khiển có sẵn trong người, chờ dịp xúi dục làm sai. Lục tặc hay lục nhập là sáu thứ làm hại người tu hành: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp.
Một chút kết lại
Những tiếng xưa này, có chữ còn sống tới bây giờ, có chữ gần như đã nằm lại trong ký ức. Nhưng mỗi chữ đều có một cái bóng văn hóa phía sau. Nó cho mình thấy người miền Nam hồi đó sống ra sao, nói năng ra sao, đùa giỡn ra sao, châm biếm ra sao, và thương nhau ra sao.
Tiếng nói không chỉ là phương tiện giao tiếp. Tiếng nói còn là đời sống. Một chữ “bậu”, một câu “sức mấy”, một tiếng “hết sẩy”, hay một trò “u ấp” cũng đủ kéo mình về một miền ký ức cũ. Ở đó có con kinh, bờ ruộng, mái lá, bàn Thiên trước sân, có ghe xuồng, có vọng cổ, có tiếng cười nghe thiệt thà mà ấm bụng.
Giữ lại mấy chữ này không phải để sống hoài trong quá khứ. Giữ lại là để biết mình đã đi qua đâu, đã được nuôi bằng thứ tiếng nói nào, và trong cái bình dân của ông bà mình có nhiều lớp duyên dáng lắm. Cái duyên đó, càng nghe chậm, càng thấy thương.
Tác giả: Lý Lê, Toàn Cao Voice hiệu chỉnh