Nói tới chữ Quấc-ngữ, ta thường hay kiếm một chỗ để gọi là “cái nôi”. Nhưng càng đọc lại dấu cũ, tôi càng thấy chuyện ấy không nên gói lại trong một địa danh đơn độc. Chữ Quấc-ngữ không phải một ngày mà thành, cũng không phải do riêng một người nghĩ ra rồi trao lại cho dân Việt. Nó là một cuộc gặp gỡ lâu dài giữa tiếng nói An Nam, nhu cầu truyền đạo của các giáo-sĩ phương Tây, và sự cộng tác âm thầm của nhiều người Việt trong buổi đầu thế kỷ XVII. Chính vì vậy, nếu gọi Hội An, Thanh Chiêm là một trong những nơi sớm nhứt và quan trọng nhứt trong sự hình thành chữ Quấc-ngữ, thì lời ấy có phần chánh đáng; còn nếu gọi là “cái nôi” duy nhứt, e rằng hẹp quá. Các nghiên-cứu cũng nhìn nhận chữ Quốc ngữ là công trình tập thể của nhiều giáo sĩ phương Tây cùng với sự cộng tác của người Việt.
Hội An thuở ấy là một thương cảng lớn của Đàng Trong. Người Nhật, người Hoa, người Bồ Đào Nha, người Ý, người Tây Ban Nha qua lại buôn bán, truyền đạo, học tiếng, ghi chép. Trong cái chỗ ghe thuyền tấp nập ấy, tiếng Việt không còn chỉ là tiếng nói trong làng xóm, mà trở thành thứ tiếng người ngoại quốc phải học cho được, phải ghi cho trúng, phải hiểu cho ra thanh điệu. Francisco de Pina, một giáo-sĩ Bồ Đào Nha, đến Hội An năm 1617; sau đó ông có thời gian ở Nước Mặn, rồi trở lại Hội An và gắn bó với vùng Thanh Chiêm. Một số tài liệu ghi ông tới Thanh Chiêm khoảng đầu thập niên 1620, trước khi mất năm 1625 trong tai nạn lật thuyền ngoài vùng biển Hội An.
Điều đáng kể ở Pina không chỉ là ông “biết tiếng Việt”, mà là ông đã coi tiếng Việt như một hệ-thống có thể học, có thể phân-tích, có thể ghi bằng mẫu tự La-tinh. Với tôi, đây là chỗ quan trọng. Một tiếng nói muốn bước qua chữ viết mới thì trước hết phải có người chịu lắng nghe nó thiệt kỹ: nghe dấu sắc, dấu huyền, dấu hỏi, dấu ngã, dấu nặng; nghe hơi thở trong lời ăn tiếng nói; nghe cách người Việt đặt chữ, nối nghĩa, xưng hô, đối đáp. Thanh Chiêm, nằm gần dinh trấn Quảng Nam, lại gần Hội An, có đủ điều kiện để chuyện học tiếng và ghi tiếng ấy được làm bền bỉ hơn. Vì vậy, nói Hội An, Thanh Chiêm là một vùng đất đầu nguồn của chữ Quấc-ngữ là nói theo nghĩa đó: nơi tiếng Việt được người ngoại quốc học sâu, ghi lại, và lần lần đi vào hình thức chữ viết mới.
Nhưng nếu chỉ nhìn Hội An, Thanh Chiêm mà quên Nước Mặn thì lại thiếu một nửa bức tranh. Nước Mặn, thuộc vùng Quy Nhơn, Bình Định xưa, cũng là một trung tâm truyền giáo rất quan trọng của Dòng Tên ở Đàng Trong đầu thế kỷ XVII. Năm 1618, các giáo-sĩ như Francesco Buzomi, Cristoforo Borri và Francisco de Pina từ Hội An vào Quy Nhơn rồi lưu trú tại Nước Mặn; nhiều tài liệu xem nơi đây là một trong những chỗ phôi thai chữ Quấc-ngữ trong giai đoạn 1618–1625.
Bởi vậy, theo cách nhìn của tôi, chữ Quấc-ngữ buổi đầu không có một “cái nôi” nằm yên một chỗ, mà có một vành nôi rộng hơn: Cửa Hàn, Hội An, Thanh Chiêm, Nước Mặn, nối với mạng lưới truyền giáo Đàng Trong. Những nơi ấy không tách rời nhau. Giáo-sĩ đi qua đi lại, học tiếng ở chỗ này, ghi chép ở chỗ kia, trao đổi tài liệu, rồi lớp sau kế thừa lớp trước. Đến năm 1651, Alexandre de Rhodes cho in cuốn Từ điển An Nam, Bồ Đào Nha, La-tinh tại Rôma, đánh dấu một bước điển chế lớn của chữ Quấc-ngữ; nhưng trước cái mốc in ấn ấy là cả mấy chục năm ghi âm, thử chữ, sửa chữ, học tiếng của nhiều người đi trước.
Tôi thích nhìn Hội An, Thanh Chiêm như một bến nước của chữ nghĩa. Ở đó, tiếng Việt của dân xứ Quảng gặp tai nghe của người phương Tây; giọng nói bình dân gặp nhu cầu ký âm; lời ăn tiếng nói hằng ngày lần lần được đặt vô khuôn chữ La-tinh. Nhưng bến nước ấy không đứng một mình. Dòng chảy chữ Quấc-ngữ còn đi qua Nước Mặn, qua các cư sở truyền giáo, qua bàn tay người Việt vô danh, qua những bản ghi chép chưa hoàn chỉnh, rồi mới thành thứ chữ mà hôm nay mình đang dùng để học, viết, buôn bán, làm báo, làm văn, và nói chuyện với nhau.
Cho nên, nói cho chánh xác: Hội An, Thanh Chiêm là một trong những nơi sớm nhứt và quan trọng nhứt trong quá trình hình thành chữ Quấc-ngữ. Nhưng nếu nói “cái nôi chữ Quấc-ngữ”, nên hiểu đó là một vùng không-gian rộng của Đàng Trong đầu thế kỷ XVII, gồm Hội An, Thanh Chiêm, Nước Mặn và cả mạng lưới truyền giáo đã cùng nhau nâng tiếng Việt bước qua một hình hài chữ viết mới.