Có nhiều chữ bữa nay mình nghe riết rồi quen. Quen tới mức ít ai dừng lại để hỏi, chữ đó có đúng nghĩa gốc không, cách ghép đó có thuận tiếng Việt không, hay mình chỉ đang lặp lại vì chung quanh ai cũng nói vậy.
Tiếng Việt của mình vốn giàu và đẹp. Trong tiếng Việt có tiếng Nôm mộc mạc, sáng rõ, gần với đời sống. Lại có lớp chữ Hán Việt gọn, trang trọng, có chiều sâu nếu dùng đúng chỗ. Nhưng nếu trộn lộn hai dòng ấy không khéo, hoặc mượn chữ lớn lao để nói chuyện rất bình thường, câu văn dễ thành tối nghĩa, thậm chí sai nghĩa.
Những điều dưới đây không phải để bắt bẻ cho vui. Càng không phải để chê bai ai. Đây chỉ là một cách nhìn lại chữ nghĩa, để mình xài tiếng Việt cho kỹ hơn, thương tiếng Việt hơn, và bớt chạy theo những chữ nghe có vẻ sang mà chưa chắc đã đúng.
Sai vì không hiểu nghĩa gốc Hán Việt
Chung cư
Từ “chung cư” nếu xét theo văn phạm Hán Việt thì tính từ đứng trước danh từ, cho nên cả hai tiếng phải đều là Hán Việt. Nhưng chữ “chung” trong Hán Việt không có nghĩa là chung chạ, cùng nhau, mà có nghĩa là cuối cùng.
Vì vậy, nếu hiểu sát mặt chữ, “chung cư” có thể bị hiểu thành chỗ ở cuối cùng, tức là mồ chôn hay nghĩa địa. Muốn nói nơi có nhiều người ở chung, nên dùng “chúng cư”, vì “chúng” là đông người, nhiều người.
Bữa nay ai cũng hiểu “chung cư” là nhà nhiều tầng, nhiều căn hộ. Nhưng nếu xét nghĩa gốc Hán Việt, chữ này quả có chỗ chưa ổn.
Khả năng
“Khả năng” là năng lực của con người, là sức có thể làm được một việc gì đó. Nói “anh ấy có khả năng giảng dạy”, “cô ấy có khả năng tổ chức lớp học”, như vậy là đúng và dễ hiểu.
Nhưng nói “hôm nay khả năng trời không mưa”, hoặc “khả năng con bò này sẽ chết vì bịnh” thì nghe không thuận. Trời hay con bò đâu có “năng lực” theo nghĩa của con người. Ở đây, mình nên dùng chữ thuần Việt là “có thể”. Nói “hôm nay có thể trời không mưa” thì rõ ràng, giản dị hơn nhiều.
Quá trình
“Quá” là đã qua. “Trình” là đoạn đường. “Quá trình” là đoạn đường đã đi qua. Nói “quá trình thực hiện công việc đã gặp nhiều trở ngại” thì ổn, vì mình đang nói tới chuyện đã diễn ra.
Nhưng nếu nói “quá trình thực hiện công tác sắp tới sẽ rất thuận lợi” thì không ổn, vì chuyện sắp tới chưa đi qua. Trong trường hợp này, nên dùng chữ “tiến trình”. “Tiến trình” có thể dùng cho quá khứ, hiện tại và tương lai.
Huyền thoại
Bữa nay mình hay nghe mấy câu như “huyền thoại Pelé”, “huyền thoại Maradona”. Nghe thì có vẻ trang trọng, nhưng xét nghĩa gốc lại chưa ổn.
“Huyền” là mờ ảo, sâu xa, không rõ có thật hay không. “Thoại” là câu chuyện. “Huyền thoại” là câu chuyện mờ mờ ảo ảo, thường do truyền miệng, như chuyện Âu Cơ sinh trăm trứng, hay chuyện Thánh Gióng cỡi ngựa sắt đánh giặc.
Pelé và Maradona là người thật, có tài năng thật, có đời sống thật. Nếu muốn khen cho đẹp, có thể nói “tài của ông ấy tưởng như chỉ có trong huyền thoại”. Nói vậy vừa hay, vừa không làm sai nghĩa chữ.
Hôn phu, hôn thê
“Hôn” là cưới. “Phu” là chồng. “Thê” là vợ. Trong chữ “phu” và “thê” đã có nghĩa chồng vợ rồi. Vậy đem thêm chữ “hôn” phía trước để gọi “hôn phu”, “hôn thê” thì là không hợp lý.
“Hôn lễ”, “hôn phối” thì dùng được, vì đó là lễ cưới, việc cưới gả. Còn muốn nói cho dễ hiểu, cứ nói “chồng sắp cưới”, “vợ sắp cưới” là sáng rõ nhứt.
Sai vì cố ý sửa nghĩa gốc Hán Việt
Độc lập
“Độc” là riêng một mình. “Lập” là đứng. Theo nghĩa gốc, “độc lập” là đứng riêng một mình, không đứng chung với ai.
Nếu dùng để chỉ một quốc gia không lệ thuộc nước khác, bài gốc cho rằng chữ này chưa thật sát. Vì ngày nay các quốc gia dù không lệ thuộc nhau vẫn có quan hệ với nhau trong các tổ chức quốc tế, giao thương, ngoại giao và nhiều ràng buộc khác.
Một số học giả như Trần Trọng Kim, Dương Quảng Hàm từng dùng chữ “tự chủ”. Chữ này nghe rõ hơn, vì nó nói được cái ý tự mình làm chủ lấy mình, không bị người khác điều khiển.
Phong kiến
“Phong kiến” gồm “phong tước” và “kiến địa”, tức là ban tước và ban đất để lập nước, phong kiến đúng nghĩa là chế độ hoàng đế phong tước cho người có công và cấp cho họ một vùng đất rộng để lập quốc, có quân đội, luật lệ và thuế má riêng.
Chế độ này có ở đời nhà Chu bên Trung Hoa, với thiên tử và chư hầu. Một vài nước Âu châu thời Trung cổ cũng có chế độ tương tự. Còn ở Việt Nam, bài gốc cho rằng không có chế độ phong kiến theo nghĩa ấy, mà là chế độ quân chủ chuyên chế.
Vì vậy, gọi chế độ quân chủ Việt Nam là “phong kiến” là chưa chính xác. Càng không nên gọi những sinh hoạt cúng tế đình chùa là “tàn tích phong kiến”, vì như vậy càng xa nghĩa hơn nữa.
Tiêu cực, tích cực
Bữa nay nhiều người hiểu “tích cực” là tốt, “tiêu cực” là xấu. Nhưng theo nghĩa gốc, hai chữ này không tự mang nghĩa đạo đức tốt xấu, mà chỉ nói mức độ tham gia, cường độ hành động.
Trong một đoàn làm việc thiện, người tích cực là đáng quý. Nhưng trong một nhóm đi làm chuyện xấu, người tích cực lại là người xấu hơn. Trong truyện Tam quốc, Từ Thứ bị buộc về dưới trướng Tào Tháo nhưng giữ thái độ tiêu cực, không hiến kế. Thái độ ấy lại được khen, vì ông không giúp kẻ thù.
Vậy “tích cực” không phải lúc nào cũng tốt, và “tiêu cực” không phải lúc nào cũng xấu.
Sai vì không phân biệt tiếng Hán Việt với tiếng thuần Việt
Quốc giỗ
Có người nói “ngày giỗ tổ Hùng Vương là ngày quốc giỗ”. Nghe qua thì có vẻ trang trọng, nhưng xét theo cách ghép chữ thì chưa ổn.
“Giỗ” là tiếng Nôm, không phải tiếng Hán Việt. Vì vậy, đem đặt sau chữ “quốc” theo lối Hán Việt là không chỉnh. Nếu muốn nói dễ hiểu, cứ nói “ngày giỗ cả nước” là được. Tiếng ấy vừa đúng, vừa gần người nghe.
Trong Hán Việt, ngày giỗ là “kỵ nhật”. Một vài nơi miền Trung gọi ngày giỗ là ngày kỵ. Nhưng nói chung, chữ “ngày giỗ” vẫn là chữ thuần Việt dễ hiểu và thân quen hơn.
Góa phụa
“Góa” là tiếng Nôm. “Phụ” là Hán Việt. Ghép thành “góa phụ” là kiểu ghép nửa Nôm nửa Hán, nên nói “người đàn bà góa” nếu dùng tiếng Việt, hoặc “quả phụ” nếu dùng Hán Việt. Hai cách đó đều rõ hơn.
Đệ nhất thác
Có nơi du lịch treo bảng “nơi đây có đệ nhất thác”. “Đệ nhất” là Hán Việt, còn “thác” là tiếng Nôm. Nếu đặt “đệ nhất” trước “thác” theo văn phạm Hán Việt thì cả hai phần phải là Hán Việt mới thuận.
Muốn quảng cáo dễ hiểu, cứ viết “nơi đây có thác đẹp nhứt”. Vừa rõ, vừa gần, vừa có sức mời gọi khách hơn.
Sai vì không phân biệt văn phạm Hán Việt với văn phạm Nôm
X quang
Mỗi lần vô bệnh viện, mình thường thấy bảng “phòng X quang”. Bài gốc cho rằng chữ này vướng hai lỗi, một là về ngữ pháp, hai là về kiến thức khoa học.
Về ngữ pháp, “quang” là tiếng chính, “X” là tiếng bổ nghĩa. Đặt tiếng bổ nghĩa trước tiếng chính là theo văn phạm Hán Việt. Nhưng “X” lại là mẫu tự Latin, không phải Hán Việt.
Về khoa học, “quang” là ánh sáng. Trong khi đó, tia X không phải là ánh sáng mắt thường nhìn thấy được. Vì vậy, gọi là “X quang” chưa sát. Trước đây ở miền Nam gọi là “tia X”, vừa gọn, vừa rõ, vừa dễ hiểu.
Bê tông hóa con đường
“Bê tông” là chữ tiếng Pháp “béton” phiên âm ra. “Hóa” là Hán Việt. Ghép thành “bê tông hóa” là trộn hai hệ chữ khác nhau. Thêm nữa, nếu hiểu sát nghĩa, “bê tông hóa” có thể khiến người ta nghĩ con đường bị biến thành một khối bê tông.
Nói bình thường “tráng bê tông con đường” hoặc “đổ bê tông con đường” thì rõ hơn nhiều.
Bài gốc cũng nhắc thêm nhiều chữ có đuôi “hóa” được dùng quá tay như nghèo hóa, giàu hóa, no hóa, đói hóa, khôn hóa, dại hóa. Dùng như vậy nghe có vẻ học thuật, nhưng nhiều khi làm tiếng Việt rối thêm.
Nữ nhà báo
“Nhà báo” là tiếng Nôm, nên nếu dùng văn phạm xuôi thì phải nói “nhà báo nữ”. Nếu muốn dùng văn phạm Hán Việt thì nói “nữ phóng viên” hoặc “nữ ký giả”. Còn “nữ nhà báo” là lối ghép lưng chừng, nghe không thuận.
Triều cường
“Cường triều” và “triều cường” nếu xét theo chữ Hán có thể khác nghĩa. “Cường triều” là con nước lớn. “Triều cường” là con nước đang lớn lên.
Bữa nay, hễ nước dâng cao là nhiều nơi gọi “triều cường” hết, cách dùng này có thể sai trong nhiều trường hợp. Tại sao mình không nói “con nước lớn” hoặc “con nước đang lên”? Vừa đúng ý, vừa hợp với thói quen nói năng của bà con.
Hạt nhân
Trong vật lý học, chữ này chỉ những hiện tượng xảy ra bên trong cái lõi của nguyên tử. Bài gốc cho biết miền Nam trước đây gọi là “hạch tâm”. “Hạch” là cái hạt, “tâm” là cái lõi bên trong. “Hạch tâm” là cái nhân của hạt, ghép theo văn phạm Hán Việt.
Nếu chuyển sang tiếng Nôm thì theo lối nói thường phải là “nhân hạt”, giống như mình nói “vỏ hạt”, chớ không nói “hạt vỏ”. Vì vậy, “phản ứng hạt nhân” theo lập luận của bài gốc là chưa thuận bằng “phản ứng nhân hạt” hoặc giữ chữ “phản ứng hạch tâm”.
Tặc
“Tặc” trong Hán Việt nghĩa là ăn cướp. Còn “đạo” mới gần nghĩa ăn trộm, như “đạo văn” là ăn trộm văn của người khác.
Vì vậy, những chữ như “tôm tặc”, “vàng tặc”, “cà phê tặc” vừa sai nghĩa, vừa sai ngữ pháp, vì ghép tiếng thuần Việt với tiếng Hán Việt một cách không thuận. Nói giản dị “bọn trộm tôm”, “bọn trộm vàng”, “bọn trộm cà phê” là rõ ràng hơn.
Ngay cả “đinh tặc” cũng chưa ổn. Muốn nói những người rải đinh ngoài đường, cứ nói “bọn rải đinh” là ai nghe cũng hiểu.
Một số cách gọi khác
Cùng nguyên nhân đó, bài gốc nhắc thêm nhiều chữ nên coi lại. “Lớp trưởng” có thể sửa là “trưởng lớp”. “Nhóm trưởng” có thể sửa là “trưởng nhóm”. “Siêu rẻ” nên nói “rất rẻ”. “Siêu bền” nên nói “rất bền”. “Vi sóng” có thể nói “vi ba” hoặc “sóng ngắn”.
Điều đáng nói không phải là bắt ai phải đổi hết, mà là khi ghép chữ, mình nên hiểu mình đang dùng văn phạm nào, Hán Việt hay tiếng Nôm.
Dùng chữ vô nghĩa hoặc tối nghĩa
Bệnh viện da liễu
Lần đầu nghe “bệnh viện da liễu”, nếu xét từng chữ sẽ thấy kỳ. “Da” là tiếng thuần Việt. “Hoa liễu” là Hán Việt, vốn có nghĩa liên quan tới chốn ăn chơi, về sau dùng trong cụm “bịnh hoa liễu” để chỉ các bịnh lây qua đường tình dục.
Nếu bỏ chữ “hoa”, chỉ còn chữ “liễu” thì “liễu” lại là cây liễu. Vậy “da liễu” nếu xét sát chữ nghe rất tối nghĩa. Muốn rõ hơn, có thể nói “bịnh ngoài da và bịnh hoa liễu”. Dĩ nhiên bữa nay “da liễu” đã thành cách gọi phổ biến, nhưng nguồn gốc chữ thì đáng để suy nghĩ.
Đại trà
Sau năm 1975, có người đọc câu “cây chè được trồng đại trà ở vùng này” mà không hiểu “đại trà” nghĩa là gì. Tra tự điển Hán Việt cũng không thấy nghĩa rõ ràng. Hỏi ra mới biết người ta muốn nói “trồng rộng rãi khắp nơi”.
Nếu đã có chữ “rộng rãi”, “khắp nơi”, “phổ biến”, sao mình không dùng cho rõ? Chữ mới nếu làm sáng nghĩa thì tốt. Nhưng nếu làm tối nghĩa thì nên cân nhắc.
Sự cố
Trong Hán Việt có “cố sự” là chuyện cũ. Còn “sự cố” bữa nay được dùng để chỉ chuyện rắc rối vừa xảy ra, đây là một cách dùng không có gốc nghĩa rõ.
Tùy trường hợp, mình có thể nói “trục trặc”, “rắc rối”, “việc không hay”, “tai nạn”, “hư hỏng”. Những chữ này nghe bình thường nhưng rõ nghĩa hơn.
Hoàn cảnh
Có câu “cô ấy sống hoàn cảnh lắm”. Câu này muốn nói cô ấy đang sống trong hoàn cảnh khó khăn, bi đát. Nhưng lấy chữ “hoàn cảnh” dùng như một tính từ thì câu văn bị tối.
Nên nói “cô ấy có hoàn cảnh khó khăn”, “cô ấy sống khổ lắm”, hoặc “cô ấy đang gặp cảnh ngặt nghèo”. Nói vậy rõ hơn.
Đôi công
Trong bóng đá, nhiều người nói “hai đội chơi đôi công”, ý là cả hai đội đều tấn công. Nhưng “đôi” là tiếng Nôm, “công” là Hán Việt trong “tấn công”. Ghép như vậy nghe không chỉnh.
Nói “hai đội cùng tấn công”, “hai bên đều chơi tấn công” là đủ rõ rồi.
Xây dựng
Câu “anh Hai tôi quyết định xây dựng với người yêu của mình” nghe qua dễ tưởng hai người đi xây nhà. Nhưng ý thật là hai người quyết định cưới nhau.
Nếu muốn nói chuyện cưới hỏi, cứ nói “lập gia đình”, “làm đám cưới”, “nên vợ nên chồng”. Những chữ ấy rõ và đẹp hơn nhiều.
Dùng sai nghĩa chữ thuần Việt
Ngưỡng
“Ngưỡng” là một giới hạn rõ ràng. Như ngưỡng cửa, bước qua là từ ngoài vào trong hoặc từ trong ra ngoài. Trong y học, khi lượng glucose trong máu vượt qua một mức xác định thì có thay đổi về sinh lý. Đó mới gọi là ngưỡng.
Vậy nói “nhiệt độ đạt ngưỡng từ 32 độ đến 35 độ” là không ổn, vì “từ 32 đến 35” là một khoảng, không phải một vạch giới hạn. Nói “nhiệt độ khoảng 32 đến 35 độ” là rõ hơn.
Kiêu ngạo
Có câu “thằng A hay kiêu ngạo người khác”. Câu này rất khó hiểu. Không rõ muốn nói A kiêu căng với người khác, hay A chế nhạo người khác. “Kiêu ngạo” là thái độ tự cao, không nên dùng như một động từ tác động lên người khác.
Trao đổi
“Trao đổi” nghĩa là đưa qua đưa lại, đổi qua đổi lại. Bữa nay nhiều người dùng chữ này thay cho “bàn bạc” hoặc “thảo luận”. Nói “tôi đã trao đổi với chủ tịch” nghe quen, nhưng nếu xét sát nghĩa thì “bàn bạc”, “thảo luận”, “nói chuyện” sẽ rõ hơn tùy ngữ cảnh.
Dùng chữ thiếu chính xác
Chất lượng
“Chất” là cái khối bên trong một vật. “Lượng” là cái có thể cân đo đếm được, “chất lượng” gần với khối lượng, tức phần vật chất có thể đo lường.
Nhưng bữa nay, “chất lượng” được dùng để chỉ tính tốt xấu của một vật, tức quality. Chữ này hiện đã phổ biến, nhưng nếu muốn nói bình dân hơn, có thể dùng “phẩm chất”, “độ tốt xấu”, hoặc nói thẳng “hàng này tốt”, “món này dở”, “nước này uống không ngon”.
Cảm giác
“Cảm giác” là sự nhận biết của cơ thể do ngoại giới tác động vào giác quan. Gió khuya gây cảm giác lạnh. Tiếng đàn gây cảm giác êm đềm.
Nhưng nói “với tình hình này, anh có cảm giác thế nào?” thì đáng lẽ nên nói “anh nghĩ thế nào?”, “anh có cảm nghĩ gì?”, hoặc “anh nhận xét ra sao?”. Vì ở đây là ý nghĩ, không phải cảm giác của giác quan.
Thống nhất
“Thống nhất” là gom những thứ đang chia rẽ về một mối. Bữa nay có người dùng “thống nhất” với nghĩa đồng ý hoặc cùng quan điểm. Thí dụ “tôi cần thống nhất với chủ tịch”. Cách nói này dễ tối nghĩa.
Nên nói “tôi cần bàn bạc để đi đến đồng ý”, hoặc “tôi cần trao đổi cho cùng quan điểm”. Như vậy nghe rõ hơn.
Giải phóng
“Giải phóng” thường dùng trong chính trị, chỉ việc cởi bỏ áp bức, trói buộc cho con người. Dùng chữ này cho vật chất như “giải phóng mặt bằng” thì chưa đúng. “Giải tỏa mặt bằng” nghe sát hơn.
Đăng ký
“Đăng ký” là chép vào sổ một vật được đưa đến. Với con người, nói “tôi đăng ký đi nước ngoài” nghe không thuận. Nên nói “tôi ghi danh đi nước ngoài”, “tôi ghi tên tham dự”, hoặc “tôi đăng ký tham gia chương trình” nếu dùng theo nghĩa hành chánh bữa nay.
Ngữ vựng lộn xộn
Lái xe
“Lái xe” vốn là động từ, chỉ hành động điều khiển xe. Nhưng bữa nay cũng có khi dùng như danh từ để chỉ người lái xe. Thành ra có thể đẻ ra câu rất mắc cười: “Sáng nay, lái xe đang lái xe gặp một lái xe khác cũng lái xe”.
Trước đây ở miền Nam, “lái xe” là động từ. Người làm nghề đó gọi là “người lái xe” hoặc “tài xế”. Như vậy minh bạch hơn.
Yêu cầu
“Yêu cầu” là động từ. Thí dụ “tôi yêu cầu anh đi ngay”. Nhưng có nơi dùng như danh từ trong cụm “mục đích và yêu cầu”, đây là cách làm lẫn lộn từ loại.
Nghiên cứu sinh
“Sinh” trong Hán Việt có thể chỉ người, như “học sinh” là người đi học, “giáo sinh” là người học nghề dạy. “Nghiên cứu sinh” là người đi nghiên cứu.
Vì vậy, nói “con tôi được đi nghiên cứu sinh tại Trung Quốc” là lấy danh từ làm động từ. Nên nói “con tôi là nghiên cứu sinh”, hoặc “con tôi đi học bậc nghiên cứu sinh”.
Ấn tượng
Theo Đào Duy Anh, “ấn tượng” là hình tượng do ngũ quan cảm nhận rồi còn in sâu trong óc. Đây là danh từ. Bữa nay người ta dùng như tính từ, “cảnh đó rất ấn tượng”, rồi dùng như động từ, “tôi rất ấn tượng cảnh đó”, cách dùng này làm từ loại bị lộn xộn.
Thần tượng
“Thần tượng” là hình tượng cao quý như thần, vốn là danh từ. Nhưng bữa nay có lúc dùng như tính từ hoặc động từ, chẳng hạn “người đó rất thần tượng”, “anh có thần tượng người đó không?”. Dùng như vậy làm chữ nghĩa mất ranh giới.
Trên
“Trên” là giới từ. Nhưng có khi bị dùng như danh từ, như “cần báo cáo cho trên rõ”, “trên bảo dưới không nghe”. Cách nói này nghe nặng hành chánh và thiếu tự nhiên.
Làm tốt
“Tốt” là tính từ bổ nghĩa cho danh từ, như “hạnh kiểm tốt”, “sức khỏe tốt”. Bữa nay lại có các cụm “làm tốt”, “học tốt”, nên nói “làm giỏi”, “học giỏi” thì thuận tiếng Việt hơn.
Lãnh đạo
“Lãnh đạo” vốn mang nghĩa điều khiển, hướng dẫn, là động từ. Bữa nay lại dùng như danh từ, thí dụ “lãnh đạo đã chỉ thị”. Nếu muốn rõ, nên nói “người lãnh đạo”, “ban lãnh đạo”, hoặc gọi đúng chức danh.
Sự lẫn lộn từ loại khiến tiếng Việt bớt sáng. Một chữ lúc là danh từ, lúc là động từ, lúc là tính từ, nếu dùng không chừng mực thì câu văn dễ trở nên tối.
Cóp tiếng Tàu đang dùng
Lưu ban
Học sinh kém quá không được lên lớp thì gọi là “lưu ban”. Trong tiếng Tàu hiện nay, “ban” là lớp học. Nhưng theo Hán Việt, “ban” không mang nghĩa lớp học theo cách đó. Dùng “lưu cấp” có thể gần hơn, nhưng thiệt ra tiếng Việt đã có chữ rất hay là “ở lại lớp”. Phụ huynh, học trò, ai nghe cũng hiểu.
Tranh thủ
“Tranh thủ” được đưa vào Nam sau 1975, thường dùng với nghĩa lợi dụng thời cơ để làm được việc gì đó, chữ này không có trong Hán Việt quen dùng mà là cách dùng của tiếng Tàu hiện đại.
Việc đem tiếng Tàu hiện đại phiên âm Hán Việt rồi nhập vào tiếng Việt một cách dễ dãi sẽ làm chữ nghĩa rối thêm. Cần nhớ, Hán Việt có gốc từ tiếng Hán đời Đường, không phải y chang tiếng Tàu ngày nay.
Thí dụ “đại gia” trong Hán Việt là người hay gia đình có vai vế trong xã hội. Trong tiếng Tàu hiện đại, “大家” lại có nghĩa là mọi người. “Đông tây” trong Hán Việt là hai phương hướng, nhưng trong tiếng Tàu hiện đại có thể chỉ đồ vật, hàng hóa.
Vậy tiếng Tàu hiện đại nên được xem là ngoại ngữ đối với tiếng Việt, không nên nhập vào một cách bừa bãi.
Đảo ngược từ kép làm sai nghĩa
Điểm yếu và yếu điểm
“Điểm yếu” là cái điểm không mạnh, ghép theo văn phạm Nôm. Nhưng nếu đảo thành “yếu điểm” theo Hán Việt thì lại có nghĩa là điểm rất quan trọng. Hai chữ này không thể dùng lẫn cho nhau.
Muốn nói khuyết điểm hay chỗ yếu của ai, nên nói “điểm yếu”. Còn “yếu điểm” là điểm quan trọng, điểm cốt yếu.
Điểm thấp và thấp điểm
“Điểm thấp” là chỗ thấp, mức thấp. Nhưng “thấp” trong Hán Việt còn có nghĩa là ẩm ướt, khi đảo thành “thấp điểm” thì nghĩa có thể đi lệch.
Vì vậy, những cách nói như “giờ thấp điểm” trong giao thông hay điện lực nghe chưa thật thuận. Muốn đối lại với “giờ cao điểm”, có thể nói “giờ vắng”, “giờ ít người”, “giờ ít dùng điện”.
Đảo từ kép bừa bãi và không cần thiết
Trong văn vần, đôi khi người ta đảo chữ cho hợp niêm luật. Nhưng trong văn xuôi, đảo chữ bừa bãi làm câu văn mất tự nhiên.
Thí dụ “xa xót” thay vì “xót xa” nghe không thuận. Rồi còn nhiều cặp chữ bị đảo tới đảo lui như nguy hiểm và hiểm nguy, đơn giản và giản đơn, khai triển và triển khai, từ chối và chối từ, bảo đảm và đảm bảo, bền vững và vững bền, minh chứng và chứng minh, phục hồi và hồi phục, biệt ly và ly biệt, tha thướt và thướt tha, thẩn thờ và thờ thẩn, tranh đấu và đấu tranh, thơ ngây và ngây thơ, xúc cảm và cảm xúc, quang vinh và vinh quang, kinh hoảng và hoảng kinh, ái ân và ân ái.
Không phải cặp nào đảo cũng sai tuyệt đối. Có chữ đảo rồi thành sắc thái khác, có chữ đảo vẫn dùng được trong văn chương. Nhưng nếu đảo chỉ để nghe lạ mà không thêm nghĩa gì, thì nên cẩn trọng.
Bài gốc nói vui rằng nếu cứ đảo lung tung, có ngày sẽ đọc được kiểu câu như “người sĩ chiến sinh hi ngoài trận mặt để vệ bảo quốc tổ”. Nghe như vậy mới thấy chữ nghĩa nếu bị đảo bừa bãi thì câu văn méo mó tới mức nào.
Ghép chữ bừa bãi
Kích cầu
“Kích cầu” là cách rút gọn chữ “kích thích nhu cầu tiêu thụ”. Nhưng rút gọn quá mức làm nghĩa trở nên tối. Nghe “kích cầu”, có người có thể tưởng đang nói chuyện mấy ông công chánh làm việc dưới sông.
Nói “kích thích tiêu dùng”, “khuyến khích nhu cầu mua sắm” thì rõ hơn.
Giao hợp
Có chuyện kể vui về một vị giám đốc dặn nữ nhân viên sang xí nghiệp bạn “cố gắng thuyết phục cho họ chịu giao hợp”. Ý muốn nói “giao thiệp và hợp tác”, nhưng ghép lại thành một chữ mang nghĩa khác hẳn.
Chuyện này nghe mắc cười, nhưng cũng nhắc mình rằng ghép chữ không thể tùy tiện. Chữ ghép sai có khi gây hiểu lầm rất lớn.
Dùng chữ dao to búa lớn
Chiến
Đá bóng là một trò chơi thể thao, nhưng báo chí và bình luận viên thường gọi là “cuộc chiến”. “Cuộc chiến” vốn gợi chuyện đổ máu, tiêu diệt kẻ thù, rất nặng nề.
Một trận bóng dù căng thẳng tới đâu vẫn là trận đấu. Gọi là “cuộc chiến” quá tay dễ làm chữ nghĩa dữ dội không cần thiết.
Có tờ báo từng giật tựa “nội chiến ở bán đảo Ibérique” khi hai đội bóng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha gặp nhau trong một trận play off. Đọc tựa tưởng có chiến tranh, hóa ra chỉ là bóng đá. Dùng chữ lớn quá có khi làm người đọc bị lầm cảm giác.
Chiến đấu
Nói “chiến đấu với tư tưởng sai trái” nghe rất nặng. Nhiều khi chỉ cần nói “phê bình”, “góp ý”, “đối thoại”, “sửa lại nhận thức” là đủ.
Ngài
Có thời người ta gọi lãnh tụ nước tư bản bằng những chữ rất nặng nề. Bữa nay thì lại gọi ai cũng là “ngài”, như ngài thủ tướng, ngài đại sứ, ngài nghị sĩ. Trong ngoại giao, dùng đúng nghi thức thì được. Nhưng dùng quá tay lại nghe khách sáo, có khi thành nịnh.
Tham quan
Đi chơi ngắm cảnh mà gọi là “tham quan”, nghĩa gốc gần với tham dự vào một việc xem xét, nghiên cứu. Chữ này nghe có vẻ quan trọng. Nhưng nhiều khi nói “đi thăm”, “đi xem cảnh”, “đi chơi” lại tự nhiên và gần gũi hơn.
Nghiên cứu sinh
Đi học thêm ở ngoại quốc là chuyện bình thường nếu học thiệt. Nhưng không nên vì muốn nghe cho oai mà lạm dụng chữ “nghiên cứu”. Chữ nghĩa càng lớn càng cần đặt đúng chỗ.
Dùng chữ Hán Việt thay chữ Nôm một cách kỳ cục
Khẩn trương
Có người định cư ở Úc từ năm 1975, sau này về Việt Nam đi tàu ra Hà Nội. Giữa khuya, tàu tới ga Đồng Hới, nghe loa báo “hành khách khẩn trương lên”. Ông giật mình tưởng tàu trật đường ray hay có hỏa hoạn, vội vàng chạy ra ngoài.
Nhưng thật ra nhân viên chỉ muốn nhắc hành khách xuống ga thì nhanh lên. Chữ “khẩn trương” nghe căng thẳng quá mức. Nếu chỉ muốn nhắc nhanh một chút, nói “xin hành khách nhanh lên” là đủ.
Ở miền Nam trước đây, người ta thường ăn nói giản dị trong đời thường. Tiếng Hán Việt thường dùng trong văn chương hoặc khi có việc nghiêm trọng.
Báo cáo
Một người bạn nói “báo cáo anh, chiều nay tôi phải lên xe về Hà Nội”. Nghe chữ “báo cáo” cứ tưởng đang nói với cấp chỉ huy ngoài chiến trường. Trong chuyện thường ngày, chỉ cần nói “chiều nay tôi về Hà Nội” là thân tình hơn nhiều.
Thay chữ Hán Việt thông dụng bằng chữ Nôm bất hợp lý
Máy bay lên thẳng
Loại máy bay có thể bay lên mà không cần phi đạo, trước đây ở miền Nam từ thành thị tới thôn quê đều gọi gọn là “trực thăng”. Chữ này ngắn, rõ, quen tai.
Sau này đổi thành “máy bay lên thẳng”, nghe dài hơn và chưa chắc hay hơn. Không phải cứ đổi sang tiếng Nôm là tốt. Có những chữ Hán Việt đã Việt hóa, đã sống yên trong tiếng Việt, dùng rất tiện thì nên giữ.
Lính thủy đánh bộ
Trước đây miền Nam có binh chủng gọi là “Thủy quân lục chiến”, gần như một danh từ riêng. Sau này sửa thành “lính thủy đánh bộ”. Dù nghe có vẻ Nôm hơn, nhưng trong đó “thủy” và “bộ” vẫn là Hán Việt.
Nếu đổi chữ chỉ vì muốn làm giảm giá trị của một bên nào đó thì không nên. Tiếng thuần Việt có cái hay của tiếng thuần Việt. Tiếng Hán Việt có cái chỗ dùng của tiếng Hán Việt. Quan trọng là dùng sao cho đúng, cho sáng, cho hợp lòng người nghe.
Chưa có những chữ thật thỏa đáng cho khoa học hiện đại
Computer
Dịch “computer” là “máy vi tính” là chưa thỏa đáng. “Vi tính” nghe như máy làm những phép tính rất nhỏ, trong khi chức năng của computer rộng hơn nhiều. Chuyện này nên để các nhà chuyên môn kỹ thuật và ngôn ngữ cùng bàn cho kỹ, để chọn chữ vừa chính xác, vừa dễ dùng.
Information technology
“Information technology” dịch là “tin học” cũng cần xét lại. Thứ nhứt, “technology” là kỹ thuật, dịch bằng một chữ “học” có thể chưa đủ. Thứ hai, nếu muốn ghép “tin học” theo lối Hán Việt thì cả hai tiếng phải là Hán Việt. Nhưng “tin” gần tiếng Nôm, còn Hán Việt là “tín”.
Vậy chữ này cũng cần được cân nhắc thêm.
Online và offline
“Online” và “offline” được dịch là “trực tuyến” và “ngoại tuyến”. Trong tiếng Anh, “on” và “off” là một cặp đối nhau rõ ràng. Khi qua tiếng Việt, “trực” và “ngoại” không thật là một cặp đối xứng. Vì vậy, cách dịch này chưa ổn và cần các chuyên viên kỹ thuật, ngôn ngữ bàn bạc thêm.
Lời kết
Nhìn lại một loạt chữ như vậy, mình mới thấy tiếng Việt không phải muốn ghép sao cũng được. Mỗi chữ có gốc của nó, có nếp dùng của nó, có văn phạm riêng của nó.
Tiếng Nôm có cái mộc, cái sáng, cái gần với đời sống. Tiếng Hán Việt có cái gọn, cái trang trọng, cái sâu. Nhưng nếu trộn hai dòng ấy không hiểu, hoặc dùng chữ to chỉ để nghe cho oai, câu văn dễ bị tối đi.
Dĩ nhiên, ngôn ngữ luôn thay đổi. Có chữ ban đầu nghe lạ, về sau dùng lâu thành quen. Nhưng quen không có nghĩa là mình khỏi cần suy xét. Bà con mình nói chuyện đời thường nhiều khi rất sáng: ở lại lớp, đi thăm, nói chuyện, bàn bạc, người lái xe, con nước lớn, thác đẹp nhứt. Mấy chữ đó bình dân mà rõ nghĩa.
Giữ gìn tiếng Việt không phải là bắt mọi người nói y như hồi xưa. Giữ gìn là biết quý cái sáng, cái đúng, cái gần lòng người. Chữ nào dùng được thì giữ. Chữ nào làm câu văn tối đi thì coi lại. Chữ nào quá dao to búa lớn thì giảm xuống cho vừa.
Tiếng Việt mình thiệt giàu. Giàu không phải vì mình nhét thêm thật nhiều chữ lạ, mà vì mình biết dùng đúng chữ, đúng chỗ, đúng lòng người.
Nguồn: Khoa Phan/ hiệu chỉnh: Toan Cao Voice